Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục giải pháp nâng cao chất lượng tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.

Trước hết, khái niệm “Công nghệ” được hiểu là “một tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ”. Công nghệ mang tính kỹ thuật, khách quan, biến việc sản xuất một sản phẩm nhất định thành một quy trình, chia ra từng giai đoạn, với công cụ và các thao tác cụ thể, chuẩn xác, để rồi tạo ra các thành phẩm đồng đều về hình dáng, tính khả dụng và phẩm chất.

Khái niệm “Công nghệ Giáo dục” nhằm diễn tả việc thiết kế giáo dục trẻ em như một khoa học và thực hiện chúng như một công nghệ.

  Người đưa ra khái niệm “Công nghệ Giáo dục” và triển khai (ở dạng thực nghiệm) công nghệ giáo dục ở Việt Nam là Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Hồ Ngọc Đại. Quan trọng hơn cả là triết lý nền tảng của công nghệ giáo dục, đó là phải làm sao khi trẻ đi học, trẻ vừa chiếm lĩnh được tri thức vừa nhận thấy một cách tự nhiên: Đi học là hạnh phúc, chiếm lĩnh tri thức là hạnh phúc. Vì sự trưởng thành và phát triển của trẻ, cho trẻ cảm thấy: Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui.

 

Từ năm 1995, việc dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của Trung tâm Công nghệ giáo dục đã triển khai hiệu quả ở 43 tỉnh thành trên toàn quốc, ở cả vùng phát triển và vùng có nhiều học sinh dân tộc thiểu số. Đến năm 2000, do Luật Giáo dục quy định  “một chương trình, một bộ sách giáo khoa” nên việc dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình của Trung tâm Công nghệ giáo dục phải dừng lại. Năm học 2006 - 2007, đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Bộ“Hoàn thiện Công nghệ dạy Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc” được thực hiện tại các trường có đông học sinh dân tộc thiểu số, có trường 100% học sinh dân tộc thiểu số. Kết quả môn Tiếng Việt của học sinh ở các trường này được nâng lên rõ rệt. Năm học 2013-2014, 35 tỉnh thành trên tinh thần tự nguyện đã đăng kí triển khai dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học.

Việc đánh giá hiệu quả của Công nghệ giáo dục vừa giúp xem xét khách quan một công trình khoa học vừa nâng tầm sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại.

Vậy quan điểm dạy học theo Công nghệ Giáo dục (CGD) là gì? 

1. Lấy học sinh làm trung tâm.

 

ở đó, giáo viên thiết kế - học sinh thi công, thầy tổ chức -  trò hoạt động thay cho giáo viên giảng giải, học sinh nhắc lại. Nguyên lý vận hành được thể hiện bởi công thức A      a, trong đó:

A: Là những thành tựu văn minh có sẵn của nhân loại (gồm khoa học, nghệ thuật và niềm tin);

   : Quy trình công nghệ (là quy trình tổ chức để học sinh có thể tự chiếm lĩnh A);

   a: Là sản phẩm giáo dục, là sự tồn tại của A trong mỗi trẻ em. 

2. Học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức

 

Phương pháp giáo dục không phải là cách giảng dạy mà là phương pháp để trẻ em chiếm lĩnh thực tại, chiếm lĩnh đối tượng khoa học, không buộc trẻ tiếp nhận chân lý có sẵn. Nguyên lý phát triển của bài học là đi từ tổng quát đến cụ thể nghĩa là tách đối tượng chiếm lĩnh ra thành các phạm trù riêng biệt: Lời nói, tiếng, âm, vần. 

3. Phát triển tư duy cho học sinh

 

Mỗi cá nhân được phát triển (về mặt tinh thần) đều bằng lao động, học tập của chính mình. Mỗi học sinh muốn phát triển, phải Tự MìNH học tập, lao động. Ai làm nhiều có nhiều, ai làm ít có ít, giá trị của mình do mình tự làm ra. Chiếm lĩnh đối tượng theo sự phát triển của phương pháp làm ra sản phẩm khoa học: Con đường chiếm lĩnh từ trừu tượng đến cụ thể.

Triết lý Công nghệ Giáo dục nếu hiểu một cách đại thể là một triết lý giáo dục dựa vào các kết quả của nghiên cứu tâm lý giáo dục trên thế giới. Chương trình phải đáp ứng ba yêu cầu bắt buộc: Phát triển, chuẩn mực và tối thiểu (theo ba nguyên tắc xây dựng chương trình môn học). Trong đó nguyên tắc phát triển đòi hỏi mỗi sản phẩm của thời điểm trước (của một tiết học hay bài học) đều có mặt trong sản phẩm tiếp sau. Vì thế các bài học trong chương trình Tiếng Việt 1. CGD được xây dựng trên một trật tự tuyến tính logic, khoa học: Tiếng, âm, Vần, Nguyên âm đôi. Nguyên tắc khác biệt ở chương trình này giúp phát triển tư duy cho trẻ rất tốt, học đến đâu chắc đến đó. Nội dung chương trình được thể hiện trong 4 bài: 

Bài 1: Tiếng

 

Tiếng là một khối âm toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn, tiếng khác nhau một phần.

Tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: Phần đầu, phần vần, thanh.

Đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước:

- Bước 1: b/a/ba (tiếng thanh ngang)

- Bước 2: ba / huyền / bà (thêm các thanh khác) 

Bài 2: âm

 

Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị. Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái Tiếng Việt. Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng ký hiệu để ghi lại. Như vậy CGD đi từ âm đến chữ.

Một âm có thể viết bằng nhiều chữ và có thể có nhiều nghĩa nên phải viết đúng luật chính tả.

Do đó, các luật chính tả được đưa ngay vào từ lớp 1, CGD xử lý mối quan hệ âm và chữ. 

Bài 3: Vần

 

Bài này giúp học sinh nắm được:

-  Cách tạo 4 kiểu vần Tiếng Việt

-  Cấu trúc vần Tiếng Việt: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối

-  Phát triển kiến thức về ngữ âm, phát triển năng lực phân tích và tổng hợp ngữ âm để tạo ra tiếng mới, vần mới.

Các kiểu vần

Kiểu 1. Vần chỉ có âm chính: La

Kiểu 2. Vần có âm đệm và âm chính: Loa

Kiểu 3. Vần có âm chính và âm cuối: Lan

Kiểu 4. Vần có âm đệm, âm chính và âm cuối: Loan 

Bài 4: Nguyên âm đôi

 

-  Các Nguyên âm đôi: iê, uô, ươ

-  Cách ghi nguyên âm đôi

* Luyện tập tổng hợp

1. Phần Luyện tập tổng hợp  bao gồm:

-  Hệ thống tri thức ngữ âm và luật chính tả.

-  Hệ thống bài đọc.

2. Phần Luyện tập tổng hợp nhằm mục đích:

ôn tập lại kiến thức về cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt  

Rèn các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết (chú trọng đọc – viết) cho HS.         

 

Khái niệm Công nghệ học được đưa vào thiết kế, trong đó tiết học là đơn vị cơ bản của Công nghệ học. Công nghệ học triển khai trên thực tiễn sư phạm với quy trình bốn việc. Quy trình bốn việc của nghiệp vụ sư phạm hiện đại khác hẳn với Năm bước lên lớp của nghiệp vụ sư phạm cổ truyền, khác cả về tư tưởng lý thuyết lẫn kĩ thuật thực thi. Trừ việc 0 của Thầy giáo, bốn việc còn lại học sinh phải làm lấy. 

Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm

 

Việc 1 nắm lấy bản chất âm của Tiếng, làm một cách vật chất, bằng cơ bắp, làm từ thô đến tinh.

-  Tách ra tiếng giống nhau.

-  Tách ra thanh của tiếng.

-  Tách ra hai phần của tiếng thanh ngang.

Cuối cùng, tách ra từng âm vị.

Đây là cách chiếm lĩnh một đối tượng vật chất với tư cách VậT THậT. Công nghệ học “thuần hoá” đối tượng lĩnh hội, tách ra khỏi mọi thứ ràng buộc nó,  đặt nó trong một “chân không về Nghĩa”.

VD: Với một VậT LIêồU – tiếng /ba/, làm theo công nghệ học, học sinh tự mình phát hiện ra CHấT LIêồU – khái niệm ngữ âm của tiếng /ba/:

+ Các thành phần cấu thành tiếng /ba/: Phụ âm/b/ và nguyên âm/a/.

+ Vị trí mỗi âm vị trong (cấu trúc ngữ âm của) tiếng /ba/: /b/ ở phần đầu, /a/ ở phần vần. 

Việc 2: Viết

 

Quy ước dùng VậT THAY THế thay cho VậT THậT: Dùng chữ thay âm.

Sau khi làm việc 1 trên VậT THậT để phân giải cấu trúc ngữ âm của Tiếng ra từng âm vị, rồi sau mới dùng chữ cái ghi âm vị. Mỗi âm vị ghi lại bằng một chữ cái (có âm vị ghi bằng 2,3,4 chữ cái, theo luật chính tả). Việc 2 là một chuỗi thao tác bằng tay, trước hết làm trên đồ vật, theo sự thoả thuận giữa thầy và trò trong lớp, cuối cùng theo quy ước chung của toàn cộng đồng. Viết là cơ hội huấn luyện cách làm việc trí óc. Học sinh “suy nghĩ ” mà viết, chứ không nhìn trên bảng “vẽ ” cóp -  pi lại.  

Việc 3: Đọc

 

Đọc là “thao tác ngược” với thao tác viết, từ chữ trở về âm. Trước hết, đọc chữ mình viết ra. Viết xong chữ nào đọc lại chữ ấy, đọc trơn. Sau đó, đọc sách học. Việc đọc phải đi qua 4 mức độ âm thanh to – nhỏ – nhẩm – thầm, kể cả mức 4 đọc không thành tiếng (ngậm miệng đọc) tức là đọc bằng mắt. Đọc bằng mắt cũng là đọc bằng đầu óc, một thao tác trí óc cần rèn luyện. 

Việc 4: Viết chính tả

 

Viết chính tả là cơ hội để tổng luyện và kiểm tra, đánh giá các việc 1, việc 2, việc 3.

Như vậy với cách dạy đi từ âm đến chữ nên có thể giải quyết tận gốc của vấn đề và học sinh không bị áp đặt nên tiếp thu một cách tự nhiên.  Học sinh học Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục nắm chắc hệ thống kiến thức ngữ âm về nguyên âm, phụ âm, cách phân biệt các tiếng giống nhau, tiếng khác nhau, âm tròn môi và không tròn môi, nắm chắc luật chính tả,.. ưu việt của cách dạy này là phát huy tối đa năng lực học sinh, học sinh chủ động, tích cực trong giờ học. Cách học này đã tạo ra sự chuyển biến tích cực đối với học sinh và giáo viên. Giáo viên kiểm soát được quá trình học tập của học sinh, phân hoá học sinh. Học sinh không chỉ đọc thông, viết thạo, các em còn tự tin trả bài cũng như giao tiếp với thầy cô và bạn bè.

Với phương pháp “ thầy thiết kế -  trò thi công ”, có thể khẳng định dạy học theo tài liệu Tiếng Việt 1-  Công nghệ giáo dục là một giải pháp nâng cao chất lượng Tiếng Việt cho học sinh tiểu học hiện nay.

Đặng Thị Kim Vân - Chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo

 


(11/19/2013 8:48:28 AM)

Các bài viết cùng chủ đề:

Công văn từ Sở GD

Tài liệu mới

Thông tin liên hệ

an image
Sở Giáo Dục và Đào Tạo Hưng Yên
Địa chỉ: Số 307 - Đường Nguyễn Văn Linh - Phường An Tảo - TP.Hưng Yên
Email:

Phone: 03213.863.797
Fax: 03213.863.797

Thống kê truy cập


Số khách trực tuyến: 335

Tổng số truy cập: 488494

Thông tin giáo dục

Bộ Giáo dục & Đào tạo